Chế độ dinh dưỡng trong phòng và điều trị bệnh tăng huyết áp có vai trò như thế nào?. Bài viết dưới đây sẽ cho bạn biết Vai trò của chất dinh dưỡng trong phòng và điều trị bệnh tăng huyết áp.
Vai trò của dinh dưỡng trong phòng và điều trị bệnh tăng huyết áp.
Chất dinh dưỡng có thế tác động đến huyết áp động mạch qua nhiều khâu, đặc biệt là lượng các chất sau :
- Natri, kali, calci, magnesi.
- Tổng số chất béo, thành phần chất béo : Mỡ động vật, dầu thực vật.
- Glucid : tinh chế hay phức hợp.
- Việc tiêu thụ rượu.
Những nghiên cứu quan sát cho thấy những vùng dân cư có tỷ lệ tăng huyết áp thấp. thường làm nghề đánh bắt cá, chế độ giàu rau quả và cá. Những quan sát cũng cho thấy những nhóm người ăn chay có chế độ giàu ngũ cốc, đậu đỗ, lạc, vừng…. Đôi khi có cá, sản phẩm trứng, sữa, trứng có tỷ lệ THA thấp. Có nghĩa chế độ ăn của họ giàu kali, magnesi, chất sơ, giàu chất béo không no và natri thường thấp.
Mối liên quan và cơ chế sinh bệnh giữa natri ăn vào và huyết áp động mạch.
Những bằng chứng chứng tỏ chất dinh dưỡng ( natri ) đóng vai trò quan trọng trong tăng huyết áp.
Thông thường natri niệu trong 24 giờ được sử dụng để đánh giá lượng natri tiêu thụ hàng ngày từ chất dinh dưỡng. Nghiên cứu INTERSALT trên 10.079 người trưởng thành nam và nữ tại 52 trung tâm trên thế giới. Cho thấy mối liên quan rõ rệt giữa lượng muối thải trong nước tiểu 24 giờ và mức độ của huyết áp tối đa.
Những nghiên cứu quan sát cho thấy :
- Ở những quần thể lớn có tập quán ăn mặn. Tỷ lệ người có THA cao hơn hẳn so với các quần thể có tập quán ăn nhạt hơn. Ví dụ : Dân vùng Bắc Nhật Bản trước đây ăn trung bình 25-30g muối/người/ngày thì có tỷ lệ THA chỉ vào khoảng 20%. Ngược lại, ở miền Nam Nhật Bản, người dân chỉ ăn khoảng 10g mối/ngày/người. Tỷ lệ người bị THA chỉ vào khoảng 20%. Người dân Eskimô và vài bộ lạc ở Châu Phi ăn rất ít muối thì hầu như không có người bị THA.
- Ở Việt Nam theo kết quả điều tra của Phan Thị Kim và CS ( Viện Dinh Dưỡng 1992 ) : Ở Nghệ An người dân trung bình muối/ngày/người. Thừa Thiên Huế 13g muối/ngày/người thì tỷ lệ THA gần 18%. Trong lúc đó ở Hà Nội người dân ăn mỗi ngày trung bình 9g muối thì tỷ lệ THA chỉ có gần 11%.
Những nghiên cứu can thiệp :
- Một chế độ ăn điều chỉnh liên quan tới giảm natri trong điều trị tăng huyết áp là chế độ Kempner- chế độ nhạt, giàu rau và quả. Chế độ ăn này cũng giàu kali, giàu các vitamin, chất sơ và thấp natri, chất béo.
- Natri trong chế độ ăn có thể tạo ra từ hai nguồn chín :
- Natri được cho thêm vào trong thực phẩm trong quá trình chế biến.
- nguồn có tự nhiên trong thực phẩm.
Theo một số tác giả một chế độ ăn rất ít các thực phẩm chế biến sẵn, có thể cung cấp khoảng 1,6g natri ( tương đương 4,1g muối ăn ).

Những nguồn natri khác cần quan tâm khi tính lượng natri trong khẩu phần ăn 24 giờ.
- Mì chính.
- Một số loại thuốc có nhiều natri
Chế độ ăn :
“ Không thêm muối ’’ đòi hỏi bệnh nhân không được sử dụng muối và mì chính trong chế biến. Không ăn muối hoặc mì chính tại bàn ăn. Ngoài ra việc tiêu thụ những thực phẩm nhiều muối cũng nên hạn chế. Tuy nhiên trong thực tế lâm sàng thì không phải bệnh nhân nào có THA cũng giảm muối. Từ đó giúp ta phân biệt các cá thể nhạy cảm với muối. các cá thể không nhạy cảm với muối rang trong THA.
Cơ chế tác dụng của chất dinh dưỡng ( natri ) trong tăng huyết áp
Ăn nhiều muối ở những người đã có sẵn yếu tố di truyền sẽ làm tăng tính thấm của màng tế bào đối với natri, ion Na+. Được chuyển vận nhiều vào tế bào cơ trơn của thành mạch máu gây, tăng nước trong tế bào, tăng trương lực thành mạch. Co mạch, tăng sức cản ngoại vi, tăng huyết áp, ăn nhiều muối cộng thêm các yếu tố gây stress. Làm hoạt động của hệ Renin-angiotesin-aldosteron tăng. Tái hấp thu natri ở ống thận. Ion Na+ vào nhiều trong tế bào trơn gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi và THA.
Ăn nhiều muối gây THA, vì thế uống lợi tiểu thải muối sẽ hạ được đường huyết áp. Ăn nhiều muối ở những người đã có sẵn yếu tố di truyền làm tăng tính thấm của màng tế bào đối với natri. Ion Na+ sẽ được chuyển vận nhiều vào tế bào cơ trơn của thành mạch máu gây tăng nước trong tế bào.
Tăng trương lực của thành mạch, co mạch, tăng sức cản ngoại vi và tăng huyết áp. Ăn nhiều muối cộng thêm các yếu tố gây stress trong cuộc sống sẽ làm hoạt động của hệ Renin-angiotesin-aldosteron. Tăng hấp thu natri ở ống thận. Ion Na+ vào nhiều trong tế bào trơn gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi và THA. Ăn nhiều muối gây THA, vì thế uống lợi tiểu thải muối sẽ hạ được đường huyết áp.
Mối tương quan giữa chất dinh dưỡng (cali) và tăng huyết áp
Mối tương quan giữa kali ăn vào và THA được chú ý đầu tiên bắt nguồn từ nghiên cứu dịch tễ học ở các nước phương Tây. Tác dụng của “nước nặng’’ có thể phòng các bệnh về tim mạch. Cũng như với kali sự thiếu hụt calci trong thức ăn có liên quan tới tăng tỷ lệ bị THA (Harlan,1990). Có thể là chế độ ăn nhiều kcalci có tác dụng hạ huyết áp còn phụ thuộc vào tình trạng muối.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng có một sự tương tác giữa calci ăn vào và sự nhạy cảm với muối đối với THA nhiều calci thì HA hạ ở người THA có nhạy cảm với muối.
Mối tương quan giữa chất dinh dưỡng ( magnesi ) và tăng huyết áp
Những gợi ý sớm về vai trò của magnesi trong tăng huyết áp. Khi có những báo cáo cho rằng nước cứng có liên quan với tỷ lệ tử vong thấp do các bện tim mạch. Những nghiên cứu cắt ngang, theo dõi theo chiều dọc. Cho thấy vai trò của chế độ giàu magnesi liên quan với hạ thấp huyết áp động mạch.
Tóm lại các ion Na+, K+, Ca++, Mg++ đều có một mối tương quan rõ rệt đối với tăng huyết áp. Đặc biệt trong THA có nhạy cảm với muối. Có thể là do các ion này có ảnh hưởng, tương tác lẫn nhau. Hạn chế sự chuyển vận ion Na+, ion K+, ion Ca++ vào tế bào cơ trơn của thành mạch.
Chế độ ăn ít natri, giàu kali,calci, magnesi tỏ ra rất có hiệu quả trong điều trị hạ HA động mạch nhất là trong THA có nhạy cảm với muối. Ăn ít mì chính ( Natri gutamat ) cũng không đủ mà cần : ít natri, giàu kali, giàu calci và magnesi.
Vài trò của chất béo trong khẩu phần ăn với tăng huyết áp
Những nghiên cứu ( Salomen và CS,1983,1988) ở Châu Âu cho thấy có mối liên quan dương tính giữa acid béo no và huyết áp. Trong thử nghiệm lâm sàng cho thấy khi giảm tổng số chất béo từ 38 – 40% năng lượng khẩu phần xuống 20-25%. Tăng tỷ lệ giữa acid béo không no và acid béo no từ 0,2 lên 1 cho thấy huyết áp thấp rõ ràng. Thử nghiêm lâm sàng cho thấy khi bổ xung cá, dầu cá, dầu ngô thì huyết áp giảm. Đó là vai trò của các acid béo không no n-3 và n-6.
Rượu và tăng huyết áp
Nghiên cứu quan sát : Uống nhiều rượu có liên quan tăng áp lực thành mạch và tăng tỷ lệ THA. Quan sát thấy ở một số nghiên cứu ( Mac-Mahon,1987). Những người đàn ông uống rượu trên 3-5 lần /ngày và phụ nữ uống rượu trên 2-3 lần /ngày có nguy cơ tăng huyết áp. Nhưng uống rượu dưới mức này thì không tấy tăng nguy cơ THA. Những người nghiện rượu, uống rượu thành thói quen thì có liên quan đến tăng huyết áp hơn là mới uống gần đây.
Nghiên cứu can thiệp : Gần đây nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rõ ràng rằng uống nhiều rượu. Huyết áp tăng lên không phụ thuộc cân nặng hay tuổi tác. Ở người THA, bỏ rượu thì huyết áp tâm thu giảm 4-8mmH. Huyết áp tâm trương giảm ít hơn.
Béo phì và tăng huyết áp
Cho đến nay nhiều nghiên cứu ngắn hạn cũng như dài hạn đều đã khẳng định có một mối tương quan rõ rệt giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) và huyết áp. Tỷ lệ THA ở người béo phì cao hơn hẳn ở người không có béo phì đã trở thành một vấn đề cần quan tâm trăm sóc sức khỏe cộng đồng (WHO, 2000).
Theo Mac-Mahon (1987) thì 60% người THA ở Châu Âu có tăng cân quá mức trên 20%. Theo Hội Tim mạch của Úc ở nam dộ tuổi từ trên 25 đến 44 thì 2/3 trường hợp THA là có béo phì.
Nghiên cứu theo dõi hàng ngày Dornfiel và CS (1985) nhận thấy có một số tương quan trực tiếp giữa tăng cân và tăng huyết áp qua thời gian, kể cả khi giữ hằng định lượng muối ăn vào.
Ở người tăng cân quá mức hoặc béo phì nếu dùng chế độ dinh dưỡng hợp lý. Kết hợp luyện tập giảm được cân nặng thì huyết áp cũng giảm.
Nghiên cứu của Tường Vi ( năm 2000) cho thấy khi cân nặng giảm 3,6kg. BMI giảm 1,41kg/m2 thì huyết áp tâm thu giảm được 14mmHg. Huyết áp tâm trương giảm được 7.5mmHg.
Cơ chế tăng huyết áp do béo phì
Có thể là :
- Tăng cơ thể tuần hoàn, tăng cung lượng tim
- Cường hoạt độngcủa hệ giao cảm.
- Sức kháng ngoại vi.
Như vậy trong dự phòng và điều trị tăng huyết áp phải kết hợp chế độ ăn chống béo phì vì béo phì có liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp.
Giảm cân bằng chế độ hạn chế ăn và luyện tập là biện pháp hữu hiệu của điều trị tăng huyết áp. Một điều rõ ràng ở những người trẻ thừa cân thì tỷ lệ tăng huyết áp gấp đôi. Ở người có tuổi béo phì thì tỷ lệ tăng huyết áp hơn 50% so với nhóm người có cân nặng bình thường. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của giảm cân trong điều trị huyết áp. Tất cả những bệnh nhân tăng huyết áp có kèm theo thừa cân nên được giảm cân.
Phương pháp giảm cân dựa trên chế độ năng lượng chất dinh dưỡng ăn thấp và tăng cường hoạt động thể dục
Việc giảm cân chỉ hiệu quả khi có sự giảm năng lượng ăn vào, cung cấp cân bằng các chất dinh dưỡng khác.
Nguyên tắc chung : Khi thực hiện chế độ ăn hạn chế phải quan tâm những điểm sau
- Chế độ ăn phải cung cấp cho cơ thể đầy đủ các chất dinh dưỡng. Các acid amin thiết yếu, các acid béo không no cần thiết, các vitamin, muối khoáng cần thiết cho duy trì sức khỏe. Ngoại trừ việc đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng.
- Xây dựng chế độ ăn phải linh hoạt và dừa trên việc xem xét khẩu vị của bệnh nhân. Khả năng về tài chính, những tập quán ăn uống theo từng dân tộc và phải thích nghi với cuộc sống.
- Chế độ ăn này sẽ tạo cơ sở cho bệnh nhân thay đổi thói quen ăn uống về lâu dài.
Một chế độ an giảm 500-1000Kcal/ngày so với nhu cầu đề nghị sẽ thành công trong việc giảm khoảng 1kg/tuần.
Khuyến cáo về phòng và điều trị tăng huyết áp bằng chất dinh dưỡng hợp lý
Chất dinh dưỡng hợp lý đã trở thành một biện pháp không thể thiếu để phòng và chữa bệnh THA. Ở người THA nếu ăn uống không đúng thì thuốc hạ áp cũng kém hiệu quả. Không để tăng cân quá mức, điều trị giảm cân bằng chất dinh dưỡng. Luyện tập là một biện pháp quan trọng trong phòng và chữa THA. Điều này đã được nhất trí cao. Thụ tiêu natri nên giảm ở cả hai đối tượng béo phì và không béo phì. Ở người bình thường lượng muối ăn không nên quá 6g/ngày. Ở người THA chỉ nên ăn mỗi ngày khoảng 4-6g muối ăn/ngày.
Chế độ ăn hạ huyết áp : Chế độ ăn này giàu quả chín, rau xanh. Sản phẩm ít sữa, bao gồm cả ngũ cốc toàn phần,thịt gia cầm, cá, lạc. Chế độ ăn này ăn giảm chất béo, thịt đỏ. Nước giải khát có đường, giảm chất béo no, giảm cholesterol, tăng kali, calci, magnesi, chất xơ. Sau đây là bảng cơ cấu khẩu phần của chế độ ăn hạ huyết áp, hiện được nhiều nước trên thế giới áp dụng :

Tóm lại
Bệnh nhân tăng huyết áp cần chú ý đến chất dinh dưỡng, chế độ ăn uống. Không nên uống nhiều rượu bia, ăn nhiều chất béo, thức ăn chứa nhiều muối. Điều này có thể ngăn chặn tình trạng bệnh tăng huyết áp trầm trọng hơn. Tăng huyết áp được coi là có liên quan mật thiết đến chế độ dinh dưỡng, di truyền, tinh thần căng thẳng, thể chất béo phì… Vì vậy, lúc bình thường cần điều chỉnh tâm lý, béo phì cần tích cự giảm cân. Tăng huyết áp thường phải lựa chọn các loại thuốc hạ huyết áp thích hợp để kiểm soát huyết áp. Giữ huyết áp trong giới hạn bình thường có thể ngăn ngừa các loại biến chứng. Huyết áp cao lâu ngày dễ gây tổn thương não và tim không tốt cho sức khỏe.
Với những lời chia sẻ về vai trò chất dinh dưỡng từ Sức Khỏe Chủ Động. Hy vọng mang lại cho bạn thêm nhiều kiến thức để giúp bạn nhận biết được trạng thái cơ thể bạn như thế nào. Chúc bạn và gia đình có một sức khỏe ngày càng khỏe mạnh hơn nhé.













