295 lượt xem

Vitamin, khoáng chất, nguồn dinh dưỡng thiết yếu đối với sức khỏe con người

Nghe giọng đọc

Vì sao cần bổ sung Vitamin, khoáng chất, nguồn dinh dưỡng thiết yếu đối với sức khỏe con người

Các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng bổ sung vitamin và khoáng chất là vô cùng cần thiết đối với sức khỏe con người. Một số loại chất dinh dưỡng thiết yếu bao gồm các vitamin, khoáng chất dinh dưỡng, axít béo thiết yếu và axít amin thiết yếu. Nước và ôxy cũng cần thiết cho sức khỏe và đời sống con người, nhưng cơ thể không thể tổng hợp được ôxy, còn nước là một sản phẩm phản ứng sinh hóa của sự trao đổi chất thì lượng nước sinh ra cũng không đáp ứng đủ nhu cầu.

Chất dinh dưỡng cần thiết cho các chức năng của cơ thể bình thường, mà hoặc là cơ thể không thể tự tổng hợp, hoặc không thể tổng hợp được với số lượng đẩy đủ để cơ thể có sức khỏe tốt (ví dụ: niacin, cholin), và do đó cơ thể phải thu nạp từ chế độ ăn uống. Các chất dinh dưỡng thiết yếu cũng được xác định bởi các bằng chứng sinh lý học về tầm quan trọng của chúng trong chế độ ăn uống

Hãy nuôi dưỡng cơ thể bằng những thực phẩm có lợi cho sức khỏe trước khi dùng chế phẩm bổ sung.

Cách tốt nhất là phải đảm bảo chế độ ăn cân bằng với nhiều thực phẩm nguyên cám; nếu cần bổ sung, hãy lưu ý đến các chữ từ A (vitamin A) tới Z (kẽm).

Nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu có tính độc hại ở liều lượng lớn. Ngược lại, một số chất dinh dưỡng thiết yếu có thể có trong chế độ ăn điển hình với lượng lớn hơn cần thiết mà không có ảnh hưởng rõ rệt nào. Chất khoáng dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như canxi (Ca), crôm (Cr), coban (Co) (một phần của vitamin B2), đồng (Cu), iốt (I), sắt (Fe), magiê (Mg), mangan (Mn), molypden (Mo), niken (Ni)[3], phốt pho (P), kali (K), selen (Se), natri (Na), lưu huỳnh (S) với một số vai trò khác nhau, kẽm (Zn), .

Những lợi ích về mặt sức khỏe của vitamin bao gồm khả năng phòng ngừa và điều trị các bệnh khác nhau, kể cả các vấn để về tim, nồng độ cholesterol cao, rối loạn mắt và các rối loạn da. Hầu hết các vitamin đều tham gia vào cơ chế hoạt động của cơ thể và thực hiện các chức năng đó.

Cơ thể hấp thu vitamin bằng nhiều cách khác nhau. Phổ biến nhất là thông qua các loại thực phẩm con người ăn uống hàng ngày, tùy thuộc vào tập quán ăn uống và truyền thống văn hóa ẩm thực ở địa phương. Do đó, ngành công nghiệp dinh dưỡng đã cho ra đời những chế phẩm bổ sung sẵn có nhằm tăng hàm lượng vitamin bổ sung cho cơ thể. Vitamin tổng hợp thường được xem là một trong những lựa chọn tốt nhất để cân bằng hàm lượng vitamin tổng thể của cơ thể, đặc biệt là đối với những người có một công việc hay một lối sống có chế độ ăn uống thất thường, thiếu cân bằng dinh dưỡng.

Vitamin A hay retinol đặc biệt hữu ích trong việc điều trị các rối loạn về mắt, mụn trứng cá, rối loạn da và nhiễm trùng cũng như đẩy nhanh quá trình chữa lành vết thương. Đồng thời cũng có tác dụng phòng chống thoái hóa điểm vàng, đục thủy tinh thể và có vai trò như một carotenoid, hỗ trợ cải thiện sự khỏe mạnh của tóc.

Vitamin B1 hay còn gọi là thiamin có thể phòng ngừa hiệu quả bệnh Beriberi, bệnh tim mạch, và chứng khó tiêu, đông thời thúc đẩy sự trao đổi chất của cơ thể, lưu thông máu, và phát triển trí não. Vitamin B, cũng như B, và B, rất hữu ích với bệnh nhân cao tuổi, người suy dinh dưỡng hay những người có nguy cơ cao mắc bệnh mất trí hoặc bệnh Alzheimer.

Vitamin B3, hay còn gọi là riboflavin giúp điều trị bệnh đục thủy tinh thể, rối loạn da, và thiếu máu, đồng thời góp phần cải thiện hoạt động trao đổi chất của cơ thể, khả năng miễn dịch và hệ thần kinh.

Vitamin B3, hay còn gọi là niacin giúp làm giảm chứng khó tiêu, rối loạn da, đau nửa đầu, rối loạn tim mạch, huyết áp cao, cholesterol máu cao, tiểu đường và tiêu chảy.

Vitamin B5, hay pantothenic axít giúp giảm bớt căng thẳng viêm khớp, các bệnh nhiễm trùng, rối loạn da, bạc tóc và cho- lesterol cao,

Vitamin B6, hay Pyridoxamin rất hữu ích trong việc điều trị bệnh tiểu đường, suy dinh dưỡng, co giật, chảy máu kinh nguyệt quá nhiều, căng thẳng, mất ngủ, ốm nghén và say xe. Nó cũng hỗ trợ làm giảm phần nào mức độ homocystein (một loại axit amin) trong cơ thể.

Vitamin B7, hay biotin có thể chữa chứng rối loạn da, thiện sự trao đổi chất của cơ thể, đẩy mạnh chăm sóc tóc.

Vitamin B9 hay axit folic có tác dụng phòng chống gỉ chứng thiếu máu, khó tiêu, phát triển trí não bất thường, rối loạn da, và bệnh gút, thúc đẩy tăng sinh tế bào máu đỏ. Vitamin này có liên quan mật thiết tới hiện tượng dị tật ống thần kinh cũng như liên quan đến sự ức chế nóng độ homocysteine, do đó có Công dụng bảo vệ và phòng chống bệnh tim mạch vành.

Vitamin B12, hay còn gọi là Cobalamin có thể làm giảm triệu chứng và tác dụng phụ của bệnh thiếu máu, hút thuốc lá, mang thai, rối loạn gan, rối loạn thận và loét miệng. Khi kết hợp đã với axit folic và B6, B12, rất cần thiết trong việc bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch, bao gồm cả đột quỵ.

Vitamin C hay axít ascorbic có tác dụng điều trị các rối loạn về mắt, ung thư, suy dinh dưỡng, cảm lạnh, nhiễm trùng, bệnh tiểu đường, stress, cholesterol máu cao, bệnh tim mạch, ung thư, huyết áp cao, rối loạn thận, chảy máu nội bộ, suy dinh dưỡng, loét giác mạc, viêm và nhiễm độc chì, tăng cường hệ miễn dịch. Trong những năm gần đây, nó cũng được sử dụng để phòng chống suy giảm nhận thức và bệnh mạch máu não. Nó là một trong những chất chống oxy hóa mạnh nhất và quan trọng nhất có trong cơ thể của chúng ta.

Vitamin D có tác dụng hiệu quả với bệnh còi xương, viêm khớp, sâu răng và bệnh tiểu đường. Ngoài ra còn rất hữu ích trong việc liên xương, tăng cường khả năng miễn dịch và điều chinh huyết áp. Vitamin D được sử dụng để dự phòng loãng xương và có tác dụng ngăn chặn tích cực nhiều loại ung thư khác nhau và bệnh đa xơ cứng ở những bệnh nhân có tiền sử viêm xương khớp

Vitamin E hay tocopherol có tác dụng chống lão hóa, chăm sóc da, giúp phòng ngừa bệnh tim, vô sinh, mãn kinh, đau bụng kinh và các rối loạn về mắt, cũng như cải thiện sự lưu thông máu.

Vitamin K là một vitamin đóng vai trò quan trọng ngăn ngừa chảy máu trong, tắc mật, bệnh loãng xương, kinh nguyệt quá nhiều, và dau bụng kinh, bao gồm khả năng cải thiện quá trình đông máu. Nó cũng liên quan đến quá trình chuyển hóa xương, ngăn ngừa xơ vữa động mạch và sỏi thận, cải thiện sự dẫn truyền thần kinh.

Mỗi loại khoáng chất khác nhau đều mang lại những lợi ích về sức khỏe khác nhau cho cơ thể người, nên không thể nói là khoáng chất này tốt hơn khoáng chất kia được. Tất cả các khoáng chất đều đặc biệt quan trọng trong việc duy trì cơ chế hoạt động bình thường của cơ thể, hỗ trợ tích cực hầu hết các quá trình trao đổi chuyển hóa của cơ thể, cân bằng nước, cùng như sức khỏe của xương, tăng cường sức khỏe hiệu quế.

Sau đây là một số khoáng chất được tìm thấy trong cơ thể cũng như lợi ích về mặt sức khỏe của từng loại.

Boron: khoáng chất này đóng vai trò thiết yếu trong sắc khỏe xương, chức năng não, chống lão hóa, sức khỏe tình dục phòng ngừa ung thư, điều trị bệnh Alzheimer và giảm đau cơ.

Canxi: khoáng chất quan trọng này cũng làm tăng sức khỏe của xương (ngăn chặn chứng loãng xương), làm giảm viêm khớp, cải thiện sức khỏe răng miệng và làm giảm chứng mất ngủ, mãn kinh, hội chứng tiến kinh nguyệt, và chuột rút. Ngoài ra canxi còn có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh béo phì, ung thư ruột kết, độ chua, bệnh tim và huyết áp cao.

Crôm: chất khoáng rất quan trọng cho sự hấp thu glucose trong cơ thể, do đó, là dặc biệt có liên quan đến những người mắc bệnh tiểu đường. Nó làm tăng sự hấp thu glucose của tế bảo, thúc đẩy tổng hợp axit béo và cholesterol nhằm duy trì hoạt động bình thường của các chức năng trong cơ thể.

St: sắt hay còn gọi là Iron. Đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành hemoglobin, góp phần quan trọng vào quá trình chuyển hóa cơ thể, hoạt động cơ bắp, điều trị chứng thiếu máu, tăng cường chức năng của não, khả năng miễn dịch, mất ngủ, hội chứng chân bồn chồn, và điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Vai trò chính của sắt trong cơ thể liên quan đến sự hình thành của hemoglobin, đảm bảo sự lưu thông của máu và oxy hóa của hệ thống cơ quan khác nhau. Thiếu sắt gây thiếu máu mãn tính, với các biểu hiện là yếu cơ, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, và mất nhận thức

Magiê: magiê có thể điều trị bệnh cao huyết áp, đau tim, nghiện rượu, bệnh về xương, chuột rút, tiểu đường, mãn kinh, mang thai và hen suyễn. Magiê cũng rất quan trọng trong việc làm giảm sự lo lắng và căng thẳng và có liên quan chặt chẽ đến việc giảm anixety và mất ngủ nhờ sản sinh enzym, hoóc môn có tác dụng làm dịu cơ thể và gây buồn ngủ. lốt; iốt có thể làm giảm bớt bệnh bướu cổ, bệnh vú brocystic, bệnh ngoài da, ung thư, cải thiện sự khỏe mạnh của mái tóc, bảo vệ thai và cải thiện sự trao đổi chất của cơ thể.

Iodide: iodide rất quan trọng về mặt chức năng của cơ thể. Nó liên quan đến chức năng tuyến giáp tổng thể, cơ thể nếu thiếu iodide sẽ mắc bệnh bướu cổ. Iodide tham gia vào quá trình sản xuất thyroxine, mà nếu thiếu chất này, sẽ làm tăng nồng độ cholesterol trong cơ thể.

Phốt pho: khoáng chất này là không thể thiếu trong việc giảm suy nhược cơ bắp, cải thiện sức khỏe của xương, tăng cường chức năng não, điều chỉnh khả năng tình dục, hỗ trợ chăm sóc răng miệng và tối ưu hóa quá trình chuyển hóa của cơ thể.

Mangan: mangan đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các quá trình chuyển hóa cơ thể, loãng xương, giảm mệt mỏi, sinh sản, bong gân, viêm, chức năng não và động kinh.

Đổng: khoáng chất này có công dụng cải thiện chức năng của não, làm dịu cơn đau viêm khớp, giúp chăm sóc da, loại bỏ nhiễm trùng cổ họng, điều trị thiếu hemoglobin, ngăn ngừa các bệnh tim mạch và tăng cường khả năng miễn dịch.

Nó thường kết hợp với sắt để hỗ trợ cho hệ thống tuần hoi, hoạt động tốt.

Kali: kali có thể điều chỉnh lượng đường trong máu thấp điều hòa huyết áp, ngăn ngừa bệnh tim, tăng lưu lượng nước trong cơ thể, làm giảm bớt các rối loạn cơ bắp và chuột rút tăng cường chức năng não bộ, quản lý bệnh tiểu đường, rối loạn chức năng thận và kiểm soát bệnh viêm khớp. Có công dụng giãn mạch, đảm bảo vận chuyển oxy lưu thông đến các hệ thống cơ quan trọng yếu, phòng chống bệnh tim mạch. Ngoài ra kali cũng đã được chứng minh có công dụng tăng cường chức năng não.

Selenium: selen có thể là một loại khoáng chất hiểm, nhưng chức năng của nó là đáng kể. Nó là một trong những chất khoáng có công dụng chống ôxy hóa mạnh nhất, ngăn ngừa sự hình thành các gốc tự do bằng cách tham gia vào các phản ứng tế bào khác nhau mà hạ thấp nồng độ peroxide trong cơ thể của tế bào. Giảm sự hình thành các gốc tự do chỉ là một trong những chức năng của selen. Chất khoáng này cũng cần thiết cho sự phát triển xương, cùng với canxi, đồng và kẽm.

Silicon: khoáng chất này là giữ vai trò quan trọng trong sức khỏe của xương, chăm sóc da, chăm sóc tóc, sức khỏe móng tay, rối loạn giấc ngủ, xơ vữa động mạch, phát triển mộ, chăm sóc nha khoa và bệnh lao.

Sodium: khoáng chất được sử dụng rộng rãi này là một chia khóa để cân bằng nước, ngăn ngừa say nắng, cải thiện chức năng não, làm giảm co thắt cơ bắp, và ngăn ngừa lão hóa sớm.

Kẽm: kẽm là khoáng chất không thể thiếu trong việc chăm sóc da, eczema, mụn trứng cá, vết thương mau lành, rối loạn tuyến tiền liệt, lạnh, giảm cân, mang thai, sinh sản, chăm sóc tóc, mất cảm giác ngon miệng, chăm sóc mắt và quáng gà. Nó là một thành phần thiết yếu của hơn 10 chức năng enzym quan trọng của cơ thể. Không có kẽm, cơ thể sẽ nhanh chóng mất đi chức năng tổng thể và hệ quả là kéo theo một số vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả khả năng chữa lành vết thương lưu trữ insulin, chống lại bệnh tật, phát triển các mô hình tăng trưởng hợp lý, cũng như bảo vệ chống lại một loạt các bệnh nhiễm trùng da.

Trên đây là những thông tin về nhu cầu vitamin và khoáng chất thiết yếu đối cơ thể của con người. Hy vọng thông qua bài viết của sức khỏe chủ động việt nam . vn sẽ giúp các bạn điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cân bằng một cách hiệu quả.

 

Bài viết mới cập nhật: