300 lượt xem

Chế độ ăn cho bệnh đái tháo đường

Nghe giọng đọc

Bệnh đái tháo đường là một tình trạng sức khỏe mãn tính ảnh hưởng đến cơ thể, biến thức ăn thành năng lượng. Bài viết Bệnh đái tháo đường là gì ? Biến chứng về bệnh đái tháo đường như thế nào ?.Cùng bạn nhận biết thế nào là bệnh tiểu đường và biến chứng mà nó đem lại. Vậy cần xây dựng chế độ ăn cho bệnh đái tháo đường như thế nào. Bài viết Chế độ ăn cho bệnh đái tháo đường cùng bạn tìm hiểu về nó.

Mở đầu

Hầu hết thực phẩm bạn ăn được phân giải thành đường (còn gọi là glucose) và được giải phóng vào máu. Khi lượng đường trong máu của bạn tăng lên, nó báo hiệu tuyến tụy của bạn tiết ra insulin. Insulin hoạt động như một chìa khóa để đưa đường trong máu vào các tế bào của cơ thể bạn để sử dụng làm năng lượng.

Nếu bạn bị bệnh tiểu đường:

Cơ thể của bạn không sản xuất đủ insulin hoặc không thể sử dụng insulin nó tạo ra một cách tốt như bình thường. Khi không có đủ insulin hoặc các tế bào ngừng phản ứng với insulin, thì sẽ có quá nhiều đường huyết lưu lại trong máu của bạn. Theo thời gian, điều đó có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, chẳng hạn như bệnh tim, giảm thị lực và bệnh thận .

Cách chữa khỏi bệnh tiểu đường

Hiện chưa có cách chữa khỏi bệnh tiểu đường, nhưng chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường hợp lý. Những thức ăn lành mạnh và năng động có thể thực sự hữu ích. Uống thuốc khi cần thiết, theo đơn của Bác sỹ điều trị và giữ các cuộc hẹn khám sức khỏe. Cũng có thể làm giảm tác động của bệnh tiểu đường đối với cuộc sống của bạn.

Yêu cầu cung cấp đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng sinh năng lượng theo một tỷ lệ cân đối.

Phân bổ năng lượng khẩu phần của một ngày:

  • Đạm (protid) chiếm 15-20%
  • Chất béo (lipid) chiếm 15-20%
  • Chất bột (glucid) chiếm 60-65%

Cung cấp đủ năng lượng để giữ cân nặng bình thường

Theo dõi cân nặng hoặc chỉ khối cơ thể (BMI) để điều chỉnh tổng năng lượng ăn vào trong ngày cho phù hợp:

  • Người gầy cần tăng cân, người béo phải giảm cân.
  • Với người lao động nhẹ cần năng lượng 30Kcal/kg/ngày.
  • Người lao động trung bình cần 35 Kcal/kg/ngày.
  • Người lao động nặng cần 40-45 Kcal/kg/ngày;
  • Nếu điều trị nội cần 20-25 Kcal/kg/ngày.

Phân bố hợp lý thực đơn thành nhiều bữa trong ngày

Đối với chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường để góp phần khống chế đường huyết. Không để xảy ra tăng đường huyết quá mức sau bữa ăn, chống hạ đường huyết khi đói. Nhất là với bệnh nhân có dùng thuốc hạ đường huyết, có thể chia thành 3 bữa chính và 1 đến 3 bữa phụ.

  • Giờ ăn : chia nhỏ các bữa ăn trong ngày dựa trên tổng số năng lượng (E) của các ngày ( theo tỷ lệ 1-1-3-1-3-1/10):
  • Bữa sáng 10% E.
  • Bữa phụ buổi sáng 10%E.
  • Bữa trưa 30% E.
  • Bữa phụ buổi chiều 10% E.
  • Bữa tối 30% E.
  • Bữa phụ vào buổi tối 10% E.
  • Với trường hợp không phải tiêm insulin : cần ăn 3 bữa chính :
  • Vào lúc 6 giờ 30 đên s7 giờ (20% nhu cầu năng lượng/ngày)
  • 11 giờ 30 -12 giờ ( 30% nhu cầu năng lượng/ngày).
  • 18 giờ 30 – 19 giờ (30% nhu cầu năng lượng/ngày)
  • Một bữa phụ vào lúc 21 giờ 30 -22 giờ.

Nếu do điều kiện lao động và sinh hoạt chỉ có thể ăn 3 bữa/ngày thì phần bổ nang lượng trong ngày như sau :

  • Bữa sáng 20% E
  • Bữa trưa 40%E
  • Bữa tối 40% E
  • Với trường hợp phải tiêm insulin: cần ăn 3 bữa chính (65% nhu cầu năng lượng / ngày) và (35%). Vào giữa buổi sáng, giữa buổi chiều và đêm (trước khi đi ngủ). Đối với bệnh nhân điều trị bằng insulin tác dụng chậm, dễ có xu hướng bị hạ đường huyết trong đêm. Vậy nên cho các bữa ăn phụ trước khi đi ngủ.
  • Một số trường hợp đặc biệt :

Với bệnh nhân là phụ nữ có thai, đang cho con bú, trẻ đang lớn. Có biến chứng tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh mạch vành và suy thận. Cần có chế dộ ăn uống đặc biệt do thấy thuốc quy định.

Nhu cầu năng lượng và chất dinh dưỡng cho chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường

Nhu cầu năng lượng

Bệnh nhân ĐTĐ cũng có nhu cầu về  năng lượng giống như người bình thường. Nhu cầu này tăng hay giảm và thay đổi khác nhau ở mỗi người. Tuy nhiên cũng có những điểm chung như sau :

  • Tùy theo tuổi ( tuổi đang lớn cần nhiều năng lượng hơn người lớn tuổi )
  • Tùy theo công việc nặng hay nhẹ
  • Tùy theo thể trạng béo hay gầy

Tổng năng lượng mỗi ngày cho bệnh nhân tại bệnh viện :

  • Nam 26 Kcal/kg thể trọng/ngày
  • Nữ 24 Kcal/kg thể trọng/ngày
  • Đối với bệnh nhân điều trị tại giường :< 25Kcal/kg thể trọng/ngày

Tỷ lệ các chất sinh nhiệt trong chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường

Trong bệnh đái tháo đường, đường huyết có chiều hướng tăng vọt sau khi ăn. Vì thế phải hạn chế lượng glucid.

Cấc chất béo, đặc biệt là acid béo bão hòa, dễ gây vữa xơ động mạch. Nhưng mặt khác chất béo lại cung cấp nhiều năng lượng. Vì vậy nên ăn các loại acid béo chưa bão hòa.

  • Protein :

Lượng protein lý tưởng là 0,8 – 1g/kg thể trọng/ngày đối với người lớn. Không có gì chắc chắn là giảm lượng protein sẽ ngăn ngừa được sự phát triển của bệnh thận. Cũng như khẩu phần có lượng protein quá nhiều là không cần thiết và còn có hại đối  với bệnh nhân có bệnh lý thận sớm.

Trong một số trường hợp đặc biệt, nên tăng lượng protein nhiều hơn. Đồng thời cũng tăng thêm tổng số năng lượng của khẩu phần trong ngày. Các trường hợp đó là :

Phẫu thuật : 2-4g/kg thể trọng/ngày

Có thai : thêm, 6g/ngày

Cho con bú : <6 tháng, thêm 15-20g/ngày;

>6 tháng 12-15g/ngày.

Vận động viên khi tập luyện : 1,2-1,5g/kg/ngày.

Protein là thực phẩm có giá thành cao, nên ngoài protein động vật có thể dùng thêm nguồn protein thực vật. Trong chế độ dinh dưỡng của ĐTĐ. Protein có tỷ lệ 15-20% năng lượng của khẩu phần ăn

  • Lipit :

Tỷ lệ lipit không nên quá 25-30% tổng số năng lượng; trong đó chất béo bão hòa nên dưới 10%. Phần còn lại là chất béo không bão hòa. Acid béo không no 1 nối đôi <10% tổng năng lượng của khẩu phần. Ít cholesterol, nên dưới 300mg/ngày. Việc kiểm soát chất béo cũng giúp cho ngăn ngừa vữa xơ động mạch.

  • Glucid :

Tỷ lệ glucid chấp nhận được là 50-60% tổng số năng lượng. Nên sử dụng các glucid phức hợp như gạo,khoai củ, hết sức hạn chế đường đơn. Cũng có nhiều tác giả cho rằng tỷ lệ năng lượng glucid có thể chiếm 60% tổng số năng lượng ( khuyến cáo của một số nước như ASEAN như Malaysia, Singapo).

  • Theo Hội tim mạch Mỹ và Hội ĐTĐ của Mỹ, cơ khẩu phần nên như sau :

Người ta còn chia thức ăn thành từng nhóm tương đương để giúp thay đổi các thực phẩm trong cùng nhóm như cụ thể như sau :

Glucid :

Ngũ cốc, các sản phẩm ché biến từ ngũ cốc ( bún, mì, bột..),rau củ, trái cây.

Protein :

Thịt cá, các thủy sản, các sản phẩm chế biến

Lipit :

Dầu, mỡ ( động vật và thực vật).

Sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa.

Đường, bánh, mứt, kẹo.

Rượu và các thức uống.

Chúng ta nên thay đổi món ăn trong thực đơn hàng ngày, tránh sự nhàm chán. Một nguyên nhân làm cho bệnh nhân khó tuân thủ chế độ ăn kiêng. Miễn là đừng có vượt quá tỷ lệ năng lượng thức ăn cho phép, đặc biệt là glucid.

Để phù hợp với từng đối tượng bệnh nhân đái tháo đường. Chúng tôi đã lập ra một số mẫu thực đơn với mức năng lượng khác nhau từ 1500-2000Kcal, với tỷ lệ 50-60%trong mỗi thực đơn.

Chúng tôi cũng chia thức ăn thành từng nhóm có hàm lượng glucid khác nhau :

≤ 5% glucid ( gồm đa số các loại rau xanh )

≤ 10% glucid

≤ 20% glucid

Bệnh nhân ĐTĐ có thể :

  • Ăn không hạn chế ( ăn tự do) cac loại thức ăn có glucid ≤ 5%
  • Ăn hạn chế các loại thức ăn có glucid 10-20%
  • Ăn kiêng, hay hạn chế tối đa đối với các loại đường hấp thu nhanh (mứt, kẹo, bánh ngọt, nước ngọt), trái cây khô là các loại thức ăn có trên 20% glucid.

Vitamin và các yếu tố vi  lượng :

Cần đảm bảo đủ các yếu tố vi lượng ( sắt, iod..), vitamin. Các loại này thường có trong rau quả tươi.

Chất xơ :

Nên ăn nhiều thức ăn có chất xơ (cellulose) có nhiều trong vỏ trái cây, gạo không giã kỹ, các loại rau quả nói chung. Nó có tác dụng chống táo bón, giảm tăng cường đường huyết, cholesterol, triglycerid sau bữa ăn.

Chất tạo ngọt trong bữa ăn của bệnh nhân đái tháo đường

Để cho thức ăn có vị ngọt hấp dẫn dễ ăn người ta dùng các “chất tạo ngọt”. Các chất này có đậm độ ngọt cao hơn nhiều lần so với đường thường dùng là saccharose; một số chất bị phá hủy khi đun nóng; một số chất có dư vị khó chịu. Được dùng phổ biến hiện nay là những chất trong bảng dưới đây :

  • Chất tạo vị ngọt có năng lượng :
  • Những chất này có khi là thành phàn của trái cây như fructose.
  • Có khi là những hóa chất thuộc nhóm đường – rượu : Sorbitol, xylitol, manitol, isomaltol…

Chỉ số đường huyết (CSĐH)

  • Các loại thức ăn mặc dù có lượng glucid bằng nhau nhưng sau khi ăn sẽ làm tăng đường huyết với mức độ khác nhau. Khả năng làm tăng đường huyết sau khi ăn được gọi là chỉ số đường huyết của loại thức ăn đó. CSĐH được xem là một chỉ tiêu có lợi để chọn thực phẩm.
  • Theo Jenkis và cộng sự, thì : Chỉ số tăng đường huyết là mức đường huyết 3 giờ sau khi ăn một lượng thức ăn nhất định nghiên cứu so sánh với mức đường huyết 3 giờ sau khi ăn 1 lượng được coi là chuẩn ( bánh mỳ trắng là 100%).

Các loại glucid phức hợp

Có nhiều tinh bột tưởng rằng sẽ gây tăng glucose sau khi ăn so với glucid đơn giản nhưng sự thật lại không phải thế.  Chỉ số đường huyết của một thực phẩm không tính trước được do sự phức hợp của thành phần glucid còn phụ thuộc vào thành phần chất xơ, quá trình chế biến , tỷ số giữa amilo và amylopectin.

Dùng các loại thức ăn có chỉ số tăng đường huyết thấp trong chế độ ăn của ĐTĐ có ưu điểm làm cho đường huyết dễ kiểm soát hơn, cải thiện chuyển hóa lipit, đặc biệt là đối với ĐTĐ typ 2.

Rượu

Người có bệnh ĐTĐ 

Phải ăn kiêng ăn các sản phẩm có đường (nước giả khát có đường, chè ngọt, bánh kẹo ngọt, xiro, mật ong..).

Nhưng hoa quả tươi thì vẫn cần ăn với mức độ hợp lý.

Bởi ngoài chất đường, hoa quả tươi còn cung cấp nhiều vitamin C và các chất khoáng; những hoa quả có màu vàng (đu đủ chín, hồng, …) cung cấp nhiều caroten rất cần cho cơ thể. Bởi vậy người bệnh ĐTĐ nên dùng ít nhất  mỗi ngày 1 xuất hoa quả tươi. Các loại quả chín có vị ngọt nhiều ( chuối, na, xoài, lê,..) mỗi ngày ăn 1 quả chia làm 2 lần. Dưa hấu mỗi ngày nên ăn 2-3 lần, mỗi lần ăn một miếng nhỏ bằng 3 ngón tay. Bưởi có thể ăn 4-6 múi 1 ngày chia làm 2 lần.

Rượu

Có thể ức chế tân tạo đường do đó dễ làm hạ đường huyết, nhất là khi bệnh nhân không ăn. Mặt khác rượu có thể tương tác với thuốc giảm đường huyết gây nhức đầu, nôn mửa, dãn mạch ( hiệu ứng giống disulfiram hay antabuse) hoặc làm  lu mờ các triệu trứng hạ đường huyết. Nên sử dụng hạn chế rượu.

Muối ăn (Muối Natri) :

Không cần kiêng muối Na, nhưng không nên dùng quá 6g/ngày, nhất là người có kèm theo bệnh tăng huyết áp.

Lên kế hoạch cho các bữa ăn phù hợp với nhu cầu sức khỏe, khẩu vị, tài chính của bạn vì chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường cần kiên trì. Và các bạn nên khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tình trạng sức khỏe chung của bạn. Chăm sóc sức khỏe chủ động đối với bản thân mình đối với bệnh tiểu đường kiểm soát khẩu phần ăn thực sự quan trọng để kiểm soát cân nặng và lượng đường trong máu.

Bài viết mới cập nhật:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.